Cách chọn nguyện vọng để dễ trúng tuyển

Chỉ còn 5 ngày nữa (ngày 15.5) ở TP.HCM kết thúc nộp hồ sơ đăng ký nguyện vọng ưu tiên vào lớp 10 năm học 2010 – 2011. Thanh Niên đã phỏng vấn ông Huỳnh Công Minh – Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, xung quanh vấn đề này.

* Ông có thể tư vấn cho phụ huynh và học sinh (HS) việc chọn nguyện vọng để không bị rớt oan uổng?

– HS phải đánh giá được năng lực của mình, bình tĩnh tự tin để không bị rớt một cách oan uổng. Trường THPT nào cũng có cách dạy riêng để HS đạt đến kết quả cuối cùng.

Ông Huỳnh Công Minh

Để đánh giá được năng lực của mình, HS nên căn cứ vào quá trình học ở bậc THCS, đặc biệt là kết quả lớp 9 vừa đạt được. Nếu như muốn nâng cao trình độ thì phải tích cực học tập, rèn luyện.

Tuy nhiên đó mới chỉ là vấn đề mang tính lý luận, còn trong thực tế, HS hãy chọn nguyện vọng 1 là trường mình thích nhất. Đó không chỉ là trường có điểm chuẩn cao mà có khi là trường gần nhà, có những điều kiện phù hợp với quá trình học tập và rèn luyện trong tương lai. Nguyện vọng 2 là trường có mức độ điểm chuẩn thấp hơn nguyện vọng 1 và tương tự chọn nguyện vọng 3 là những trường có mức điểm chuẩn thấp hơn nguyện vọng 2 để nếu như 2 nguyện vọng đầu không đạt thì có nhiều cơ hội trúng tuyển ở nguyện vọng cuối cùng. Tuy nhiên, bảng điểm chuẩn của những năm học trước chỉ có tính tham khảo và một số HS lưu ý không nên quá tự tin vào bản thân dễ dẫn đến lựa chọn không đúng.

Bên cạnh đó, ngay trong năm học 2009 – 2010, Sở GD-ĐT chỉ đạo các trường THPT tạo điều kiện để HS bậc THCS đến tham quan và tìm hiểu những điều mình thích, từ đó tạo tâm lý muốn theo học.

* Dự kiến trong số 77.749 HS sẽ tốt nghiệp THCS thì chỉ có 56.493 HS được vào học lớp 10 công lập (khoảng 73%). Số lượng còn lại khoảng 21.000 HS sẽ có con đường nào để tiếp tục theo đuổi việc học tập của mình, thưa ông?

– Với số lượng HS không trúng tuyển đề cập đến thì các trường dân lập, tư thục, trung tâm giáo dục thường xuyên, các trường thuộc hệ thống giáo dục chuyên còn dư chỗ học rất nhiều. Cho nên, bên cạnh HS tự nhận thức thì phụ huynh HS không nên đặt quá nhiều áp lực lên các em.

Nếu HS không đạt điểm cao trong quá trình học phổ thông thì thường là do năng khiếu học tập, ghi nhớ về lý thuyết có giới hạn. Do vậy các em có thể phát triển ở khía cạnh thực hành, kỹ thuật. Cho nên giáo dục chuyên nghiệp sẽ là lựa chọn tốt nhất bởi vừa có thể hoàn thành chương trình THPT, vừa có cơ hội trở thành lao động có tay nghề, có kỹ thuật đáp ứng nhu cần thiết hiện nay của xã hội…

* Nhiều HS cho rằng “đường cùng” mới vào học hệ thống giáo dục chuyên nghiệp vì thực tế những trường này chưa thật sự tạo sự tin tưởng?

– Đây là một vấn đề đang được xã hội trông chờ bởi ngành học này còn khá non trẻ nên tổ chức giáo dục trong nhà trường chưa đạt được như mong muốn. Vì vậy trong thời gian qua, Sở đã đẩy mạnh củng cố, khắc phục những hạn chế, từ 7 trường cách đây 10 năm thì đến nay con số này đã lên tới 41 trường với sự đa dạng trong loại hình đào tạo. Tốt nghiệp những trường này, HS vừa có việc làm đồng thời có đủ năng lực để học liên thông lên ĐH.

14 trường THPT mới tuyển sinh

Năm học 2010 – 2011, TP.HCM có 14 trường THPT mới tuyển sinh. Trong đó, 4 trường THPT công lập được đưa vào sử dụng là THPT An Nghĩa (Cần Giờ), Phước Kiểng (Nhà Bè), Phường 7 (Q.8), Bình Trị Đông (Q.Bình Tân). Các trường THPT tư thục mới là THPT Quang Trung Nguyễn Huệ (Q.5), Quốc Trí (Q.6), Trần Quốc Tuấn (Q.11), Tân Trào (Q.Tân Bình), Đông Dương (Q.Thủ Đức), Khai Minh và Đông Á (Q.Tân Phú); Q.Gò Vấp có ba trường là Lý Thái Tổ, Việt – u và Đại Việt.

Tham khảo điểm chuẩn vào lớp 10 năm học 2009 – 2010

Trường THPT Trưng Vương: (NV1: 34.5, NV2: 34.75, NV3: 35.5); Bùi Thị Xuân: (38.25, 38.75, 39.75); Năng khiếu TDTT: (15, 15, 15); THPT Ten-Lơ-Man: (24.25, 25.25, 25.25); Lương Thế Vinh: (30.5, 30.5, 30.5), Lê Quý Đôn: (35.5, 35.75, 36); Nguyễn Thị Minh Khai: (37.5, 38.5, 39.5); Lê Thị Hồng Gấm: (28, 28.25, 28.25); Marie Curie: (30, 30, 30); Nguyễn Thị Diệu: (26, 26.25, 26.25); Nguyễn Trãi: (29.75, 29.75, 29.75); Nguyễn Hữu Thọ: (23, 23, 23); Hùng Vương: (33.5, 33.5, 33.5); Thực hành ĐHSP: (37.5, 38.5, 39.5); Thực hành Sài Gòn: (28.75, 29.5, 30.25); Trần Khai Nguyên: (29.5, 29.5, 30); Trần Hữu Trang: (24, 24.25, 24.25); Mạc Đĩnh Chi: (33, 33, 33.25); Bình Phú: (30.5, 31, 32); Lê Thánh Tôn: (24.25, 24.5, 24.5); Ngô Quyền: (24.5, 24.5, 24.5); Tân Phong: (19, 19, 19.25); Nam Sài Gòn: (19, 19, 20); Lương Văn Can: (26, 26.25, 27.25); Ngô Gia Tự: (19, 19.25, 19.25); Tạ Quang Bửu: (21.5, 21.75, 21.75); Chuyên TDTT Ng.Thị Định: (21, 21, 21); Nguyễn Khuyến: (32.25, 32.25, 32.75); Nguyễn Du: (34.25, 34.5, 34.5); Nguyễn An Ninh: (23.25, 24, 24.25); Diên Hồng: (23.5, 23.5, 23.5); Sương Nguyệt Anh: (22. 25,23, 23); Nguyễn Hiền: (32, 32.25, 33.25); Trần Quang Khải: (29.25, 29.75, 29.75); Nam Kỳ Khởi Nghĩa: (25.75, 26.25, 26.25); Võ Trường Toản: (29, 29.25, 29.25); Trường Chinh: (25.25, 25.5, 25.5), Thạnh Lộc: (22, 22, 23); Thanh Đa: (24.5, 25.25, 25.25); Võ Thị Sáu: (32.75, 33, 33); Gia Định: (35.25, 36.25, 37.25); Phan Đăng Lưu: (28.25, 28.25, 28.5); Hoàng Hoa Thám: (29.5, 29.5, 29.5); Gò Vấp: (31, 31, 31.75); Nguyễn Công Trứ: (34.5, 35.5, 36.50); Trần Hưng Đạo: (30, 30.25, 30.5); Nguyễn Trung Trực: (25.5, 25.5, 26); Phú Nhuận: (35.5, 36.5, 37.5); Hàn Thuyên: (21, 21.5, 21.75); Nguyễn Chí Thanh: (31, 31.25, 31.25); Nguyễn Thượng Hiền: (39.25, 40.25, 41.25); Lý Tự Trọng: (24, 24, 24.75); Nguyễn Thái Bình: (27, 27.5, 27.5); Long Thới: (15.75, 15.75, 15.75).

B.T

Bích Thanh

(thực hiện)

Loading...

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *